Ngày 30.11: Thánh Tử đạo Giuse Marchand Du (Linh mục Hội Thừa sai Paris)

29/11/2025

THÁNH GIUSE MARCHAND DU

Linh mục Hội Thừa sai Paris, Tử đạo

(1803 – 1835)

Thánh Giuse Marchand chào đời ngày 17.08.1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs, nước Pháp. Ngay từ niên thiếu, cậu đã tỏ rõ ước muốn trở thành linh mục. Nhưng vì gia đình làm nghề nông túng nghèo, thiếu người lao động, nên cha mẹ cậu tìm cách trì hoãn cho cậu đổi ý. Tuy nhiên, Marchand vẫn không thay đổi chí hướng, kiên quyết hoàn thành mộng ước tuổi xuân, cuối cùng song thân cậu phải nhượng bộ. Năm 18 tuổi, Marchand gia nhập chủng viện Giáo phận Besançon. Năm 1828, sau khi lãnh chức phó tế, thầy xin chuyển sang Hội Thừa sai Hải ngoại Paris. Độ nửa năm, thầy thụ phong linh mục (04-04-1829), sau đó một tháng thì đáp tầu qua Macao để đến Việt Nam giảng đạo.

Vị mục tử lưu động nhiệt thành.

Tháng 03.1830, cha Marchand bí mật vào Đàng Trong (Nam Kỳ) giữa lúc vua Minh Mạng đang bách hại đạo, và lấy tên Việt là Du. Sau một thời gian học tiếng nói và phong tục bản địa tại chủng viện Lái Thiêu, cha được gửi sang Pnom-Penh để coi sóc tín hữu tại đây (khi đó Campuchia thuộc Giáo phận Đàng Trong). Ít lâu, cha lại được gọi về Lái Thiêu huấn luyện chủng sinh, đồng thời phụ trách 25 giáo họ, với khoảng 7.000 tín hữu thuộc tỉnh Bình Thuận. Trong thư ngày 13.06.1832 gửi về quê nhà, cha viết: “… 25 giáo họ cách nhau rất xa. Muốn chu toàn bổn phận, con không thể bỏ phí một giây nào… Từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhiều ngày chẳng có lúc nào rảnh rỗi cả. Con chỉ có thể dành chút thời giờ chu toàn các việc đạo đức riêng lo cho phần rỗi của mình, còn thì luôn luôn phải làm việc để thánh hóa kẻ khác… Con chỉ tiếc một điều là không thể tận tụy hơn được nữa, để vừa giúp giáo dân, vừa giúp lương dân, lại còn bắt buộc phải di chuyển bằng thuyền, nên không thể đi mọi nơi, hầu dẫn về đoàn chiên Chúa những con chiên bất hạnh lạc đường…”

Cha Du mới đi hết 25 giáo họ ấy được hai lần thì ngày 06.01.1833 vua Minh Mạng ra chiếu chỉ lùng bắt các giáo sĩ Âu châu. Đức cha Taberd Từ, cha Cuénot Thể và các thừa sai phải cùng với nhiều chủng sinh Việt đào thoát sang Thái. Chỉ mình cha Du nhất quyết ở lại, ẩn tránh ở miền Lục tỉnh, giúp các họ đạo Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan, Giồng Rùm, và trú ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long

Chỉ biết một điều là giảng đạo.

Lúc ấy có Lê Văn Khôi là con nuôi của Tả quân Lê Văn Duyệt. Bất mãn về việc vua Minh Mạng xử tệ với Tả quân (khi đó đã qua đời), cho đánh trên mộ 100 trượng, Lê Văn Khôi liền nổi loạn, lấy cớ phò cháu đích tôn của vua Gia Long, con hoàng tử Cảnh, là Nguyễn Phúc Đán. Việc bại lộ, Khôi bị bắt. Ngày 05.07.1833, ông với khoảng 30 bạn tù vượt ngục, giết vài viên quan, thả các tù nhân khác, rồi chiêu binh mãi mã chiếm thành Phiên An (Sài Gòn) và miền Lục tỉnh.

Tuy ngoại giáo, Lê Văn Khôi đã khôn khéo hứa hẹn bãi bỏ các lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng, nên một số tín hữu theo ông. Để có thể qui tụ nhiều người Công giáo hơn ủng hộ mình, Lê Văn Khôi cho mời cha Du về Sài Gòn, cha từ chối. Sau vì một số tín hữu Chợ Quán nói : “Nếu cha không chịu về, ông ta sẽ giận mà chém hết bổn đạo trong thành. Ở đó bổn đạo cũng đông lắm…” Thế là cha Du đành lòng về giáo xứ Chợ Quán của cha Phước, nhưng rất ít khi ở nhà, vì lo đi thăm các gia đình tín hữu. Lê Văn Khôi nhiều lần mời mọc, cha vẫn không vào trong thành.

Khi quân triều đình bao vây Phiên An, Khôi cho người ra ép cha Du phải vào thành. Cha Phứơc và nhiều tín hữu khác cũng theo vô. Trong thành, Khôi xử đãi cha khá rộng rãi, có nhà riêng để dâng lễ hàng ngày, các tín hữu có thể tụ tập để đọc kinh, nghe giảng và lãnh các bí tích. Khôi có ý mua chụôc để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: “Tôi chỉ biết việc đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành”. Một hôm cha được mời vào dinh nguyên soái. Một xấp thư kêu gọi dân chúng và tín hữu nổi dậy chống nhà vua để trên bàn. Tướng Khôi xin cha ký tên. Vị linh mục thấy rõ đã đến lúc tỏ rõ lập trường của mình, liền đứng dậy cầm xấp thư, ném tất cả vào lửa. Dầu vậy Khôi không dám làm gì cha, vì sợ các tín hữu trong đội quân sẽ nổi loạn.

Sau hơn hai năm vây hãm, ngày 08-09-1835 quân triều đình chiếm lại được Phiên An (lúc ấy Khôi đã mất). Cha Du bị bắt, bị đánh đập và bị nhốt vào cũi nhỏ (1m x 0,7m x 0,8m). Đây là “nhà ở” của cha cho đến ngày bị xử tử. Số bị tàn sát lên đến 1.994 người, trong đó có 66 tín hữu (mà 2/3 là phụ nữ, trẻ em), cha Phứơc cũng bị xử lăng trì (chặt tay chân, rồi chẻ thân mình làm bốn).

Bị đưa ra xét xử về việc có giúp cho “giặc ngụy” chăng, cha Du một mực trả lời là mình chỉ biết lo việc đạo. Sau hai cuộc tra vấn nữa, cha bị áp giải về kinh đô Huế cùng với 4 thủ lãnh loạn quân và con trai Lê Văn Khôi tên Viên mới 7 tuổi. Đòan người về tới Phú Xuân ngày 15.10.1835, cha Du bị giam trong ngục Võ Lâm gần tòa Tam Pháp (cạnh cửa Hiển Nhơn).

Đàng sau bản án phản loạn.

Hôm sau 16.10, cha bị đưa ra tòa Tam Pháp. Các quan cố ép cha nhận tội giúp Khôi làm loạn. Nhưng cha khẳng định: “Tôi chỉ lo cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ thôi”. Quan hạch hỏi: “Có phải ngươi gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Gia-tô trong Đồng Nai, biểu nó đến giúp ngụy không?” Cha trả lời: “Ông Khôi có biểu tôi viết thư, song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay: đạo tôi cấm làm như vậy và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế ông Khôi còn đem mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư ấy mà đốt trước mặt ông ấy.”

Để bắt cha nhận tội, hôm sau, các quan dùng đủ cực hình kìm kẹp : họ cho nung đỏ kìm sắt kẹp vào hai đùi cha, rồi giữ nguyên tới khi kìm nguội. Hai lần như vậy. Mỗi lần như thế, mùi thịt cháy xông lên khét lẹt, chính quân lính cũng phải quay mặt đi. Vị anh hùng đức tin hai lần ngất xỉu, nhưng vẫn giữ nguyên lời khai cũ. Họ đành nhốt cha vào cũi lại, rồi đưa về ngục.

Để tạo chứng gian buộc tội cha, các quan dỗ con trai Lê Văn Khôi, hứa trả tự do nếu khai rằng “ông thầy Tây” giúp cha em khởi nghĩa. Nhưng cậu bé bẩy tuổi ấy không biết nói dối, cậu xác nhận ông Tây hoàn toàn vô can, dẫu cha cậu có hứa hẹn, khuyên dụ nhiều lần.

Cuối cùng, các quan đành xoay qua “tội giảng đạo”. Họ nhắc đến chiếu chỉ nhà vua, và hứa ân xá nếu cha bước qua Thập giá. Cha tuyên bố sẵn sàng chịu cực hình, chứ không thể thất trung với Chúa được. Họ lại tiếp tục nhốt cha vào cũi. Sáu tuần lễ ở kinh đô đã trôi qua như thế. Các tín hữu ghé vào thăm và tiếp tế cho cha, đều thuật lại rằng: “Cha Du vẫn luôn vui vẻ và thường cầm cuốn sách nhỏ để đọc đêm ngày.”

Thừa lệnh vua Minh Mạng, kẻ muốn tạo bằng cớ các thừa sai và các Kitô hữu phản quốc lẫn chống triều đình, bản án cuối cùng được viết như sau: “Tây dương Ma Sang kêu là danh Du, Gia-tô đạo trưởng, phò ngụy Khôi, nhận tội có viết thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp ngụy thần. Lệnh xử bá đao”.

Chết vì lý do tôn giáo.

Sáng ngày 30.11.1835, bảy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người đến tham dự cuộc xử án. Cha Du, ba vị tướng của Khôi và em Lê Văn Viên được đưa ra khỏi cũi (một đã chết trong ngục), mọi người chỉ được đóng khố, rồi dẫn đến cửa Ngọ Môn trình diện và phục lạy vua năm lạy. Minh Mạng giận dữ ném chiếc cờ hiệu xuống đất, dấu không ân xá, phải đưa ra pháp trường. Riêng cha Du, theo mật lệnh, được đưa vào tòa Tam Pháp tra khảo một lần nữa. Năm người lính cầm năm kìm nung đỏ kẹp vào bắp vế cha. Phía sau là năm người lính khác cầm roi để năm lý hình không được phép nương tay. Nội dung cuộc tra khảo này cho thấy quan quân không đá động gì đến lý do chính trị, mà toàn vu khống đạo làm chuyện bậy như móc mắt người gần chết, làm điều quái gở trong nhà thờ, dùng một thứ bánh làm bùa mê thuốc lú cho tín hữu…

Sau đó lính đưa các tử tội đến pháp trường tại họ đạo Thợ Đúc bên kia sông Hương, cách kinh thành một dặm. Năm cây cọc đã cắm sẵn., lính trói năm tử tội vào. Cứ mỗi tử tội lại có ba lý hình, một cầm kìm, một cầm dao, còn một lo đếm số cho đủ 100 lát cắt (Án phạt bá đao). Trước đó, lính nhét đá vào miệng tội nhân và cột chặt, để không ai có thể kêu la được nữa.

Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán cha Du lật xuống che mặt, rồi cắt từng mảnh hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn, vị chứng nhân giẫy giụa, quằn quại, ngước mắt lên trời cao rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa đời. Tiếp theo quân lính cắt đầu của ngài, cởi dây, bổ thân mình làm bốn, và ném xuống biển chung với bốn tử tội kia. Còn thủ cấp cha bị đưa đi bêu tại nhiều nơi, rồi trả về kinh đô, bỏ vào cối giã nát và rắc xuống biển. Ngày nay, tại Giáo xứ Phường Đúc (tên mới) chỉ còn có đài kỷ niệm dựng lên nơi vị anh hùng đức tin đã từ đạo.

Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân phước ngày 27.05.1900 và Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã nâng ngài lên bậc Hiển thánh ngày 19.06.1988.

Ban Biên tập Lịch sử TGP Huế