Đức Cha Cuénot đánh giá ngài rất cao và để tưởng nhớ Chân phước François Jaccard nên đã đặt tên cho ngài là Phan. Vào cuối tháng 9 năm 1846,

Đức Cha Cuénot chọn ngài làm Giám Mục phó, dầu ngài còn trẻ (33 tuổi) và không thích. Một đoản sắc (bref) ký ngày 11 tháng 3 năm 1844 ban cho Đức Cha Cuénot quyền chọn một Giám mục phó với quyền kế vị và tấn phong như Giám mục hiệu tòa Biblos thay cho Đức Cha Dominique Lefèbvre, cũng do đoản sắc đó, được đặt làm Đại Diện Tông Tòa Tây Đàng Trong thiết lập thành Miền Truyền Giáo
độc lập.
Trong bức thư gửi cho thân mẫu, ngài kể lại:
“Vào cuối tháng 9, Đức Cha Cuénot gọi con đến nơi ngài trú ẩn và không nêu lý do. Đến căn chòi của Đức Cha, ngài dạy con chuẩn bị tĩnh tâm ngay và 8 ngày sau, trong đêm 4 tháng 10, lễ Đức Mẹ Mân Côi, con đã được tấn phong Giám mục.
Các bà đạo đức đã trở lại đạo trong gia đình các quan mang biếu con các vòng vàng để làm một thánh giá đeo ngực và một chiếc nhẫn, có thợ ở đây chạm khắc cho con cũng khá đẹp. Còn mũ mít (mitre) làm bằng giấy, gậy bằng gỗ, con là một Giám mục nghèo (sans bas et sans souliers), lâu đài con ở bằng tranh, nhưng con vẫn là Giám mục phụ trách một đàn chiên 30.000 tín hữu và 10 triệu người lương”.
Nghi thức đã được tổ chức trong một đêm mưa gió ở tu viện Mến thánh Giá Gò Thị. Hàng giáo sĩ và các tín hữu tham dự ít: một vài chức việc chính yếu trong các giáo xứ Gò Thị, Gia Hựu và các nữ tu cùng nhiều đại và tiểu chủng sinh. Đồ trang hoàng và nhất là ánh sáng tầm thường. Ngược lại hồng ân Chúa Thánh Thần tuôn tràn càng dồi dào rất cần thiết trong thời buổi đầy biến động này.
Vào tháng 3 năm 1848, Đức Cha Pellerin đi thuyền từ Tourane đến Huế. Ngài viết cho một người bạn:
” Sau một chuyến hành trình 2 ngày 2 đêm, tôi đã đến dưới thành quách cung điện hoàng gia; nhưng tôi phải nằm trong chiếu cho tới nửa đêm. Vì chiếc thuyền phải buộc chặt dưới chân một cây cầu, qua một lỗ hổng của chiếc chiếu, tôi đã có thể thỏa thích chiêm ngắm những nơi vẫn còn tỏa mùi máu của các thánh tử đạo ”.
Đêm đến, ngài được dẫn vào nhà một Kitô hữu và ở lại đó 3 ngày. Vì từ khi Đức Cha Labartette mất (ngày 6 tháng 8 năm 1823), không có vị Giám mục nào đến Huế, nên thấy được rằng người ta lấy làm hạnh phúc đón ngài.
Cuộc thăm viếng của vị Giám Mục đến các xứ đạo ở Huế được dễ dàng nhờ một vị quan trong triều, thái bộc Micae Hồ Đình Hy, là người thường đi theo ngài bằng thuyền và như thế tránh cho ngài khỏi bị kiểm soát.

Một ngày kia, ở gần Dương Sơn (cách Huế 12 km), con thuyền của vị Giám mục chạm mạnh vào một chiếc thuyền khác làm cho hư hại đôi chút. Chủ thuyền la lối om sòm khuấy động cả vùng và muốn bắt đền các người chèo thuyền của Đức Cha, quan Hồ Đình Hy không mang theo tiền trong túi nên để chiếc áo mình lại hầu xoa dịu và bồi thường, rồi cuộc hành trình tiếp tục.

Vào đầu tháng 3 năm 1849, Đức Cha suýt bị bắt ở Dương Sơn. Hai tên lính người lương, được sai đi lấy cho bằng được vôi trầu để dùng trong triều đình và trong các bàn thờ tổ tiên của nhà vua, bất thần đi vào trong vườn nơi Đức Cha đang trú ngụ và chúng thấy ngài rõ ràng. Thay vì báo cho làng lương chỉ cách đó vừa tầm một phát súng, chúng cấp tốc chạy về Huế tố cáo. Lợi dụng thời gian đó, Đức Cha xếp dọn hành lý và trong lúc các người cho ngài trú xóa đi những dấu vết về việc ngài có ở đó, một con thuyền nhỏ chèo nhanh đưa ngài đi đến một giáo xứ cách đó 5 hay 6 dặm (có lẽ Thanh Hương hoặc Kẻ Văn).
Ngài chỉ ở đó vài ngày và tuần sau, ngài đã có mặt tại Di Loan (hoặc Loan Lý) nơi cha Sohier đang ở. Khi cập bến, thuyền của ngài bị lật nơi chỗ nước khá sâu và thế là ngài phải bơi vào bờ.

Rồi Ngài viết:
“Hiện nay tôi ở trong một mái tranh tạm được. Tôi không còn ngủ trên đất; nhưng nằm trên một sàn ván. Sau khi đã hỏi ý Đức Cha Cuénot, và đặt tất cả dưới sự bảo trợ của Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria, tôi đã lập một trường trong mảnh vườn vừa mua được. Tôi gọi lại tất cả học sinh cũ đã bị phân tán cùng các linh mục bản xứ và một vài người mới khác, tất cả khoảng 30. Ngôi nhà cha Sohier ở biến thành nhà nguyện cho cả họ đạo. Các chủng sinh ở trong ba mái nhà tranh, mà một cái dùng làm nhà nguyện và trong các ngày lễ được trang hoàng bằng lụa là bản xứ và của Ấn Độ. Chúng tôi còn có một bàn billard được phủ len và dùng cho các chủng sinh giải trí vì họ không bao giờ ra khỏi vườn được. Một bà già giúp việc cung cấp đồ ăn hằng ngày cho chúng tôi, nhưng thỉnh thoảng, khi thấy bị người ta quá để ý, bà trở về tay không.
Các chủng sinh ngủ trên một chiếc chiếu trải rộng trên nền đất. Chúng tôi thiếu thốn nhất là các thứ sách. Tất cả chủng sinh mang lại cho chúng tôi nhiều niềm an ủi nhờ lòng đạo đức, sự dễ bảo và chuyên cần làm việc. Tôi sắp ban các chức nhỏ cho vài người trong họ vào dịp Bốn Mùa trước Noel. Họ cũng thường phải chạy tán loạn, cũng như tôi”.
Một lá thư mới đây của Đức Cha viết ngày 18 tháng 9 năm 1850, cho biết số chủng sinh trường mới này là khoảng 50, trong đó có 9 thầy thần học. Đứng đầu chủng viện là một vị thừa sai tuyệt vời (cha Sohier) với một linh mục mới chịu chức trong năm này giúp đỡ.
(còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ